Một doanh nghiệp lập hai bộ số cho cùng một năm hoạt động. Bộ thứ nhất theo IFRS hoặc US GAAP, dùng để công bố cho nhà đầu tư. Bộ thứ hai theo luật thuế, dùng để nộp cho cơ quan thuế. Hai bộ số này gần như không bao giờ bằng nhau.
Điều đáng nói là chênh lệch giữa chúng không nằm im trong hồ sơ nội bộ. Nó hiện lên cả ba báo cáo tài chính, và nếu bạn đọc đúng, nó nói khá nhiều về chất lượng lợi nhuận của doanh nghiệp.
Bốn thuật ngữ không được lẫn
Phần lớn câu sai trong đề thi không nằm ở tính toán. Nó nằm ở chỗ đọc nhầm thuật ngữ này thành thuật ngữ kia.
| Thuật ngữ | Tính theo | Xuất hiện ở đâu |
|---|---|---|
| Accounting profit | Chuẩn mực kế toán | Income statement, dòng lợi nhuận trước thuế |
| Taxable income | Luật thuế | Tờ khai thuế, không công bố ra ngoài |
| Income tax expense | Chuẩn mực kế toán | Income statement, dòng chi phí thuế |
| Taxes payable | Luật thuế | Balance sheet, nợ phải trả ngắn hạn |
Hai cột đầu là thu nhập, hai cột sau là thuế trên thu nhập đó. Trục ngang mới là thứ quyết định: bên trái là thế giới kế toán, bên phải là thế giới thuế.
Câu nối hai thế giới:
Income Tax Expense = Taxes Payable + ΔDTL − ΔDTA
Đọc câu này theo chiều ngược lại sẽ dễ nhớ hơn. Doanh nghiệp thực sự nộp Taxes Payable. Kế toán ghi nhận Income Tax Expense. Phần chênh giữa hai số đó không biến mất, nó đọng lại trên balance sheet dưới dạng deferred tax.
Vì sao hai bộ số lệch nhau
Có đúng hai loại nguyên nhân, và phân biệt được chúng là chìa khoá của cả phần này.
Chênh lệch tạm thời phát sinh khi cả hai bộ số cùng ghi nhận một khoản, chỉ khác thời điểm. Khấu hao nhanh cho thuế trong khi kế toán khấu hao đường thẳng là ví dụ kinh điển. Tổng qua toàn bộ đời sống tài sản thì hai bên bằng nhau. Chênh lệch này sinh ra DTA hoặc DTL, và sẽ tự đảo ngược.
Chênh lệch vĩnh viễn phát sinh khi một khoản được bên này ghi nhận còn bên kia thì không, mãi mãi. Tiền phạt vi phạm hành chính là chi phí kế toán nhưng luật thuế không cho khấu trừ. Lãi trái phiếu chính phủ miễn thuế là thu nhập kế toán nhưng không chịu thuế. Chênh lệch này không sinh deferred tax, vì không có gì để đảo ngược.
Cơ chế hình thành và bảng nhận diện đầy đủ của DTA và DTL nằm ở bài DTA và DTL: khi nào phát sinh thuế hoãn lại. Bài này tập trung vào phần khác: chênh lệch đó hiện lên báo cáo tài chính ra sao.
Một ví dụ ba năm
Doanh nghiệp có doanh thu 10.000 và chi phí hoạt động 6.000 mỗi năm. Doanh nghiệp mua tài sản 3.000, khấu hao kế toán đường thẳng 1.000 mỗi năm trong ba năm. Luật thuế cho khấu hao nhanh: 1.500, 1.000, 500.
Riêng năm 1 doanh nghiệp nộp phạt vi phạm hành chính 200, khoản này không được khấu trừ thuế. Thuế suất 20%.
| Năm 1 | Năm 2 | Năm 3 | |
|---|---|---|---|
| Doanh thu | 10.000 | 10.000 | 10.000 |
| Chi phí hoạt động | (6.000) | (6.000) | (6.000) |
| Khấu hao kế toán | (1.000) | (1.000) | (1.000) |
| Tiền phạt | (200) | 0 | 0 |
| Accounting profit | 2.800 | 3.000 | 3.000 |
| Khấu hao thuế | (1.500) | (1.000) | (500) |
| Tiền phạt được khấu trừ | 0 | 0 | 0 |
| Taxable income | 2.500 | 3.000 | 3.500 |
| Taxes payable tại 20% | 500 | 600 | 700 |
| ΔDTL | +100 | 0 | −100 |
| Income tax expense | 600 | 600 | 600 |
| Net income | 2.200 | 2.400 | 2.400 |
Ba điều đáng chú ý trong bảng này.
Thứ nhất, income tax expense phẳng 600 suốt ba năm trong khi taxes payable chạy từ 500 lên 700. Chênh lệch tạm thời đã được deferred tax hấp thụ hết. Đây chính là mục đích tồn tại của deferred tax: giữ cho chi phí thuế trên income statement khớp với lợi nhuận kế toán của cùng kỳ đó.
Thứ hai, tổng ba năm hai bên bằng nhau. Taxes payable cộng lại là 1.800, income tax expense cộng lại cũng 1.800. Chênh lệch tạm thời chỉ dịch chuyển thời điểm, không tạo ra hay làm mất tiền thuế.
Thứ ba, DTL tăng 100 ở năm 1 rồi về 0 ở năm 3. Trên balance sheet, khoản mục này xuất hiện, phình ra, rồi biến mất mà không có dòng tiền nào đi kèm.
Chênh lệch hiện lên từng báo cáo ra sao
Trên income statement. Chỉ có một dòng bị ảnh hưởng trực tiếp là income tax expense, và qua đó là net income cùng EPS. Điểm cần nắm: chênh lệch tạm thời không làm thay đổi tổng income tax expense của kỳ, nó chỉ chia lại số đó thành phần current và phần deferred. Chỉ chênh lệch vĩnh viễn mới làm tổng chi phí thuế đổi.
Trên balance sheet. Xuất hiện hai nhóm khoản mục khác hẳn nhau về bản chất. Taxes payable là nợ thật, có ngày đến hạn, phải trả bằng tiền. DTA và DTL không phải nợ theo nghĩa thông thường, chúng là hệ quả kế toán của việc hai bộ sổ chưa gặp nhau. Cả IFRS lẫn US GAAP đều xếp DTA và DTL vào nhóm dài hạn.
Trên cash flow statement. Dòng tiền thuế thật là taxes payable, không phải income tax expense. Với phương pháp gián tiếp, phần deferred được cộng ngược lại vào net income vì nó là khoản phi tiền mặt.
Kiểm lại bằng số liệu năm 1 của ví dụ trên:
CFO gián tiếp = Net income 2.200 + Khấu hao 1.000 + ΔDTL 100 = 3.300
CFO trực tiếp = 10.000 − 6.000 − 200 (phạt) − 500 (thuế nộp) = 3.300
Hai cách cho cùng một con số. Nếu bạn tính ra lệch nhau, gần như chắc chắn là đã dùng nhầm income tax expense vào chỗ đáng lẽ phải là taxes payable.
Effective tax rate: chỗ chênh lệch vĩnh viễn lộ ra
Effective tax rate = Income tax expense / Accounting profit
Với năm 1 của ví dụ: 600 chia 2.800 bằng 21,43%, trong khi thuế suất luật định là 20%. Khoảng cách 1,43 điểm phần trăm không phải sai sót. Nó là dấu vết của khoản phạt 200 không được khấu trừ.
Bảng đối chiếu, đây đúng là bảng doanh nghiệp phải trình bày trong thuyết minh:
| Số tiền | % trên accounting profit | |
|---|---|---|
| Thuế theo statutory rate 20% trên 2.800 | 560 | 20,00% |
| Tác động chi phí không được khấu trừ (200 × 20%) | +40 | +1,43% |
| Income tax expense | 600 | 21,43% |
Sang năm 2 và năm 3 không còn khoản phạt, effective tax rate về đúng 20% dù chênh lệch tạm thời vẫn đang chạy. Quy tắc rút ra gọn thế này:
- Chênh lệch tạm thời đổi cơ cấu current so với deferred, không đổi effective tax rate.
- Chênh lệch vĩnh viễn đổi effective tax rate, không tạo deferred tax.
Đây là một trong những chỗ đề Level 1 hay gài nhất. Câu hỏi cho một tình huống khấu hao nhanh rồi hỏi effective tax rate thay đổi thế nào, đáp án đúng là không đổi.
Analyst đọc được gì từ khoảng cách này
Với người phân tích, effective tax rate không phải con số kỹ thuật mà là một tín hiệu về chất lượng lợi nhuận.
| Quan sát | Cách đọc |
|---|---|
| ETR thấp hơn statutory rate nhiều năm liền | Có nguồn thu nhập ưu đãi bền, hoặc hoạt động ở vùng thuế thấp |
| ETR giảm đột ngột một kỳ rồi bật lại | Khoản một lần, lợi nhuận kỳ đó không lặp lại được |
| ETR biến động mạnh giữa các kỳ | Cơ cấu lợi nhuận theo quốc gia thay đổi, hoặc ước tính thuế kém ổn định |
| DTA phình nhanh khi triển vọng lợi nhuận yếu | Rủi ro phải lập valuation allowance, làm giảm lợi nhuận kỳ sau |
Khi dự phóng lợi nhuận, dùng effective tax rate của quá khứ mà không tách phần một lần ra là lỗi thường gặp. Cách làm sạch hơn là bóc bảng đối chiếu trong thuyết minh, giữ lại những dòng lặp lại được, bỏ những dòng chỉ xuất hiện một kỳ.
Một điểm nữa dễ bỏ qua: nếu doanh nghiệp thay đổi thuế suất, toàn bộ DTA và DTL phải định giá lại ngay, và phần chênh chạy thẳng vào income tax expense. Lợi nhuận kỳ đó nhảy mà không có bất kỳ thay đổi nào trong hoạt động kinh doanh. Cơ chế cụ thể nằm ở bài về DTA và DTL.
Vài khác biệt giữa IFRS và US GAAP
| Nội dung | IFRS | US GAAP |
|---|---|---|
| Thuế suất dùng để đo | Đã ban hành hoặc gần như chắc chắn ban hành | Chỉ khi đã ban hành |
| Ghi nhận DTA | Chỉ ghi phần nhiều khả năng thu hồi được | Ghi đủ, rồi trừ valuation allowance |
| Đánh giá lại tài sản cố định | Được phép, phần deferred tax đi vào OCI | Không cho phép, nên không phát sinh |
| Phân loại trên balance sheet | Dài hạn | Dài hạn |
Khác biệt ở dòng thứ hai đáng chú ý nhất khi so sánh hai doanh nghiệp: cùng một triển vọng lợi nhuận, cách trình bày DTA ròng có thể giống nhau nhưng đường đi tới đó thì khác. Bức tranh đầy đủ về hai bộ chuẩn mực nằm ở bài IFRS và US GAAP khác nhau thế nào.
Ba dạng câu hỏi trong đề
- Cho accounting profit, taxable income và thuế suất, hỏi income tax expense. Tách chênh lệch thành tạm thời và vĩnh viễn trước đã. Nhân chênh lệch tạm thời với thuế suất ra deferred, cộng vào taxes payable.
- Cho tình huống, hỏi effective tax rate cao hơn hay thấp hơn statutory rate. Chỉ nhìn chênh lệch vĩnh viễn. Chi phí không được khấu trừ đẩy ETR lên, thu nhập miễn thuế kéo ETR xuống.
- Hỏi tác động lên cash flow. Dòng tiền theo taxes payable. Phần deferred là phi tiền mặt, CFO không đổi vì nó.
Ba dạng này phủ gần hết câu hỏi về income taxes ở Level 1. Toàn bộ lý thuyết của môn nằm ở hub Financial Statement Analysis, còn phần ghi nhận doanh thu bổ trợ trực tiếp cho chương này ở bài ghi nhận doanh thu theo năm bước.