Lợi nhuận trước thuế quý 2/2026 của MB Bank tăng 40,7 phần trăm so với cùng kỳ và không chứa khoản một lần nào, do đó về chất lượng lợi nhuận đây là báo cáo sạch hơn HPG cùng quý. Cùng lúc đó, ba chỉ số nền móng của ngân hàng đều đang đi theo hướng bất lợi.

Bài này bóc tách báo cáo kết quả kinh doanh quý 2/2026 do TCBS Research phát hành ngày 03/08/2026, tại mức giá đóng cửa 24.000 đồng.

10.560 tỷ Lợi nhuận trước thuế · +40,7% YoY
33,6% CASA · thấp nhất 8 quý
127,4% LDR · cao nhất 8 quý
93,6% Bao phủ nợ xấu · dưới 100%
CASA33,6%thấp nhất 8 quývốn rẻ đang mỏng điLDR127,4%cao nhất 8 quýcho vay vượt xa huy độngBao phủ nợ xấu93,6%dưới ngưỡng 100%đệm dự phòng đã bị dùngBa chỉ số cấu trúc đều đang ở vùng bất lợi, trong khi lợi nhuận công bố tăng 40,7 phần trăm
Nguồn: báo cáo tài chính quý 2/2026 của MBB.

Bức tranh tổng quan

Chỉ tiêuQ2/2026So cùng kỳSo quý trước
Thu nhập lãi thuần16.894 tỷ+36,5%+13,3%
Tổng thu nhập hoạt động20.434 tỷ+18,5%+17,2%
Chi phí dự phòng4.247 tỷ−11,3%+22,9%
Lợi nhuận trước thuế10.560 tỷ+40,7%+9,7%
Lợi nhuận sau thuế8.446 tỷ+40,6%+9,6%
Lũy kế 6 tháng, lợi nhuận trước thuế20.188 tỷ+27,1%

Lợi nhuận trước thuế quý 2 là mức cao thứ hai trong lịch sử ngân hàng, chỉ sau quý 4/2025, và hoàn thành 51,2% kế hoạch năm sau nửa đầu năm.

Tăng trưởng đến từ quy mô hơn là từ hiệu suất

Thu nhập lãi thuần tăng 36,5%, chủ yếu nhờ dư nợ mở rộng 39,5% so với cùng kỳ. Tức là ngân hàng cho vay nhiều hơn, không phải cho vay hiệu quả hơn.

Bằng chứng nằm ở ROA. Chỉ số này đi ngang ở 2,0% suốt bốn quý, trong khi tổng tài sản tăng 34,4%. Lợi nhuận tăng gần đúng bằng mức tăng của tài sản, không hơn.

Thu nhập ngoài lãi thì sụt trên diện rộng. Ngoại hối giảm 74,3%, mua bán chứng khoán giảm 51,2%, dịch vụ giảm 5,7%. Tỷ trọng thu ngoài lãi rơi từ 28,3% xuống 17,3%, đẩy thu nhập lãi thuần lên chiếm 82,7% tổng thu nhập hoạt động.

Hệ quả là lợi nhuận ngày càng mỏng đệm và nhạy hơn với biến động lãi suất cùng chu kỳ tín dụng.

NIM phục hồi từ một nền thấp

Biên lãi ròng riêng quý đi từ đáy 3,9% ở quý 1 lên 4,2% ở quý 2, tăng 0,3 điểm phần trăm. Nguyên nhân là tài sản tái định giá nhanh hơn nguồn vốn, với lợi suất tài sản tăng 0,9 điểm còn chi phí vốn tăng 0,7 điểm.

So với cùng kỳ thì bức tranh ngược lại. Chi phí vốn tăng 1,4 điểm trong khi lợi suất tài sản chỉ tăng 1,3 điểm. Chênh lệch lãi suất thực chất không mở rộng. Phần phục hồi của NIM chủ yếu là hiệu ứng thời điểm tái định giá chứ không phải cải thiện cấu trúc.

TCBS dự phóng NIM cả năm chỉ 3,9%, thấp hơn mức 4,0% của năm 2025.

Ba rủi ro quan trọng nhất

CASA bị bào mòn

Tỷ lệ tiền gửi không kỳ hạn giảm từ đỉnh 38,0% cuối 2024 xuống 33,6%, mức thấp nhất 8 quý. Tiền gửi không kỳ hạn giảm 15.308 tỷ từ đầu năm.

TCBS tính rằng khôi phục CASA về mức đầu năm sẽ tiết kiệm khoảng 1.400 tỷ chi phí lãi mỗi năm, tương đương 3,4% lợi nhuận trước thuế. MB Bank vốn dẫn đầu ngành về CASA, và đây đúng là lợi thế đang xói mòn.

Chất lượng tài sản xấu đi nhanh

Nợ xấu nhóm 3 đến 5 tăng từ 1,3% lên 1,5%, đã chạm sát ngưỡng kế hoạch dưới 1,5% mà đại hội đồng cổ đông đặt ra.

Đáng chú ý hơn là cơ cấu bên trong. Nợ nhóm 5, tức nợ có khả năng mất vốn, tăng 36,2% từ đầu năm lên 8.747 tỷ và chiếm 49,1% tổng nợ xấu. Nếu cộng cả phần đã xóa sổ 4.190 tỷ thì nợ xấu hình thành mới trong 6 tháng vào khoảng 7.959 tỷ, ứng với tỷ lệ 1,8% chứ không phải 1,5%.

Tỷ lệ bao phủ nợ xấu chỉ 93,6%, dưới 100% và thấp hơn nhóm ngân hàng quốc doanh ở mức 110 đến 120%. Với mức bao phủ này, mỗi phần trăm nợ xấu tăng thêm gần như chuyển thẳng thành chi phí dự phòng.

Đây là chỗ nghịch lý đáng lo nhất của báo cáo. Ngân hàng đang giảm trích lập dự phòng 11,3% đúng vào lúc nợ nhóm 5 tăng nhanh nhất. Áp lực dự phòng vì thế bị dồn về nửa cuối năm.

Thanh khoản căng và tập trung bất động sản

Tỷ lệ cho vay trên tiền gửi đạt 127,4%, cao nhất 8 quý. Tín dụng tăng 13,2% từ đầu năm trong khi tiền gửi chỉ tăng 4,6%. Phần chênh phải bù bằng vốn liên ngân hàng và giấy tờ có giá, đều đắt hơn tiền gửi dân cư.

Bất động sản chiếm 32% mức tăng trưởng tín dụng 6 tháng, tương đương 46.280 tỷ, đưa tỷ trọng ngành này lên 13,6% từ 11,2% đầu năm và 3,1% của năm 2020. Danh mục đang tập trung vào một ngành có tính chu kỳ cao.

Điểm mạnh vẫn còn nguyên

Tỷ lệ chi phí trên thu nhập 6 tháng ở mức 26,3%, giảm 1,0 điểm so với cùng kỳ và dẫn đầu ngành. Đây là trụ đỡ ổn định nhất của MB Bank.

ROE trượt bốn quý đạt 21,7%, cao thứ ba trong chín ngân hàng niêm yết lớn và vượt cận trên mục tiêu 20 đến 21% của đại hội đồng cổ đông.

Ngân hàng cũng còn dư địa tín dụng lớn cho nửa cuối năm, mới dùng 13,2% trên mục tiêu khoảng 30%, phần lớn sẽ dồn vào quý 4.

Định giá

P/B 1,3 lần, nằm giữa cận dưới trừ một độ lệch chuẩn ở 1,1 và bình quân 5 năm ở 1,5, tức thấp hơn trung bình khoảng 11%. P/E 6,4 lần, quanh bình quân 3 năm ở 6,2.

Trên biểu đồ tương quan P/B và ROE của ngành, MB Bank nằm đúng trên đường tương quan. Cổ phiếu không rẻ bất thường so với mức sinh lời của nó.

Phần chiết khấu phản ánh ba rủi ro cụ thể: pha loãng từ kế hoạch tăng vốn điều lệ lên khoảng 102 nghìn tỷ, tỷ trọng bất động sản tăng nhanh, và nghĩa vụ tái cơ cấu ngân hàng chuyển giao bắt buộc MBV.

TCBS dự phóng năm 2026 lợi nhuận trước thuế 41.550 tỷ, tăng 21,2%, ROE 21,2% và nợ xấu 1,5%. Khuyến nghị là nắm giữ và tích lũy thêm ở nhịp điều chỉnh.

Đặt cạnh HPG thì thấy gì

Tiêu chíHPGMBB
Chất lượng lợi nhuận quýCó khoản một lần, phải bóc táchThuần cốt lõi
Nguồn tăng trưởngSản lượng và biên lợi nhuậnQuy mô dư nợ, ROA đi ngang
Rủi ro chínhChi phí lãi vay, cầu thép xây dựng yếuCASA giảm, nợ nhóm 5, LDR cao
P/B1,31,3
Luận điểm TCBSHấp dẫn, chu kỳ lõi mở rộngNắm giữ, chờ CASA và nợ xấu ổn định

Cả hai cùng P/B 1,3 và cùng được đánh giá là định giá dưới trung bình. Nhưng bản chất rủi ro khác hẳn nhau. HPG là câu chuyện chu kỳ hàng hóa cộng đòn bẩy. MBB là câu chuyện chất lượng tài sản cộng chi phí vốn. Hai loại rủi ro này phản ứng với lãi suất theo hai hướng ngược nhau.

Vì sao báo cáo này đáng đọc với người ôn CFA

Báo cáo MB Bank là ví dụ gọn để luyện phân tích ngân hàng theo khung CFA.

Phần bóc tách NIM là chuẩn mực. Tách riêng lợi suất tài sản và chi phí vốn cho thấy NIM tăng theo quý trong khi spread theo năm không mở rộng. Hai kết luận ngược nhau từ cùng một chỉ số, khác nhau ở chỗ chọn kỳ so sánh.

Phần dự phòng là một red flag kinh điển của earnings quality trong ngành ngân hàng. Giảm trích lập khi nợ xấu đang tăng chính là dồn lời sang quý sau, và đây là dạng tình huống hay xuất hiện trong Financial Statement Analysis.

Hai kỹ thuật còn lại đáng học: tỷ lệ bao phủ nợ xấu dưới 100% và tốc độ hình thành nợ xấu mới, ở đây là 0,7% dư nợ chỉ trong 6 tháng. Cuối cùng, LDR 127% cùng việc cơ cấu nguồn vốn dịch sang vốn bán buôn là bài học trực tiếp về rủi ro thanh khoản và rủi ro nguồn vốn.

Số liệu và luận điểm trong bài lấy từ báo cáo phân tích của TCBS Research phát hành ngày 03/08/2026. Bài viết mang tính tham khảo và không phải khuyến nghị đầu tư.