Module 10
Valuing a derivative using a one-period binomial model
4 bài · khoảng 19 phút đọc
Nội dung module
- 1Activity 1: One-period binomial valuation model
- 2Activity 1: The concept of risk neutrality in derivatives pricing
- 3Activity 2: Coaching
- 4Curriculum practice questions
Activity 1: One-period binomial valuation model
[LOS 10.a] Giải thích cách xác định giá trị vị thế của hợp đồng quyền chọn thông qua mô hình nhị thức
1. Mô hình nhị thức
Mô hình nhị thức được sử dụng để định giá các hợp đồng dạng Cam kết kỳ hạn (Contingent claims), ví dụ hợp đồng quyền chọn, với giả định rằng giá trị của tài sản cơ sở sẽ thay đổi trên hai khả năng biến động (tăng hoặc giảm) trong một kỳ duy nhất tương ứng với ngày đáo hạn của hợp đồng phái sinh.
Giá trị tài sản có thể biến động như sau:
-
Tăng với một tỷ lệ là u, đạt giá trị
-
Giảm với một tỷ lệ là d, đạt giá trị
Giá trị quyền chọn được xác định tương ứng với từng tình huống trên và được trình bày trong hình sau:
2. Định giá quyền chọn sử dụng tỷ số phòng ngừa rủi ro (hedge ratio)
Tỷ số phòng ngừa rủi ro (hedge ratio) là tỷ lệ tài sản cơ sở sẽ bù đắp rủi ro đi kèm với mỗi quyền chọn (tức là số lượng cổ phiếu của tài sản cơ sở mà chúng ta sẽ mua cho mỗi quyền chọn mua mà chúng ta sẽ bán).
Ví dụ: Cho một quyền chọn mua với giá thực hiện (X) là $55 đối với một cổ phiếu hiện có giá trị (S0) ở mức $50 và giả định rằng trong một khoảng thời gian, giá trị của cổ phiếu sẽ tăng thành (S1u) $60 hoặc giảm xuống còn (S1d) $42.
Giá trị quyền chọn tại thời điểm đáo hạn:
-
Nếu giá tăng: c1u = Max (0, $60 − $55) = $5
-
Nếu giá giảm: c1d = Max (0, $42 − $55) = $0
Với giả định không quan tâm đến xác suất xảy ra biến động của giá trị tài sản cơ sở như mô hình nhị thức, ta có thể sử dụng phương pháp định giá không xảy ra hiện tượng kinh doanh chênh lệch giá (no-arbitrage pricing) để xác định giá trị của quyền chọn mua c0. Phương pháp này được thực hiện bằng cách tạo một danh mục đầu tư gồm quyền chọn và cổ phiếu cơ sở, sao cho giá trị danh mục đầu tư sẽ không đổi dù giá của cổ phiếu có tăng lên hay giảm xuống.
Trong ví dụ này, ta sẽ bán quyền chọn mua tại giá c0 và mua h đơn vị tài sản cơ sở. Gọi giá trị của danh mục đó là V, ta có:
|
Giá trị danh mục |
||
|
Tại t = 0 |
|
|
|
Tại t = 1 |
Trường hợp giá tăng |
|
|
Trường hợp giá giảm |
|
|
Theo nguyên lý không xảy ra kinh doanh chênh lệch giá, giá trị danh mục tại hai tình huống là bằng nhau, đặt V1d = V1u và tìm h như sau:
Kết quả h = 0.278 được gọi là tỷ số phòng ngừa rủi ro (hedge ratio) cho quyền chọn này. Danh mục này tại thời điểm đáo hạn sẽ có giá trị là V1u = 0.278 × $60 – $5 = $11.68 và V1d = 0.278 × $42 = $11.68
Vậy giá trị danh mục tại t = 0 (V0) sẽ bằng với giá trị tại thời điểm đáo hạn (cuối kỳ) chiết khấu về hiện tại. Giả định rf = 3%, V0 được tính toán như sau:
V0 = $11.68/1.03 = $11.34
Vậy từ đó, giá trị quyền chọn là:
V0 = h × S0 – c0
c0 = 0.278 × $50 – $11.34 = $2.56
Tóm tắt phương pháp tính toán
Còn 3 bài trong module này
Phần còn lại gồm bài giảng, ví dụ tính toán và bài luyện tập có chấm điểm, nằm trong thư viện tài liệu của tài khoản Pro.
Xem thư viện tài liệu