Module 1 môn Economics trình bày cách doanh nghiệp xác định giá và output trong bốn market structure. Điều kiện tối đa hoá lợi nhuận là MR = MC và áp dụng cho cả bốn. Yếu tố phân biệt giữa chúng là pricing power, tức khả năng đặt giá cao hơn MC, và pricing power phụ thuộc vào hình dạng demand curve mà doanh nghiệp đối mặt.
Đặc điểm bốn market structure
| Đặc điểm | Perfect competition | Monopolistic competition | Oligopoly | Monopoly |
|---|---|---|---|---|
| Số lượng người bán | Rất nhiều | Nhiều, hoạt động độc lập | Ít | Một |
| Đặc tính sản phẩm | Đồng nhất | Dễ thay thế nhưng có khác biệt | Thay thế gần giống nhau | Không có close substitute |
| Barrier to entry | Không có | Thấp | Cao | Rất cao |
| Pricing power | Không có | Một phần | Đáng kể, phụ thuộc đối thủ | Cao |
| Demand curve của doanh nghiệp | Nằm ngang | Dốc xuống, elastic cao | Tuỳ mô hình, thường kinked | Dốc xuống, chính là demand curve thị trường |
| Supply curve của doanh nghiệp | Chính là đường MC | Không xác định được | Không xác định được | Không xác định được |
Perfect competition là market structure duy nhất có supply curve xác định. Doanh nghiệp trong thị trường này là price taker, do đó tại mỗi mức giá nó cung ứng đúng phần output có MC bằng giá đó, và supply curve ngắn hạn của doanh nghiệp chính là đường MC.
Ba market structure còn lại đều có demand curve dốc xuống, doanh nghiệp tự chọn đồng thời cả giá lẫn output, vì vậy không tồn tại một supply curve rõ ràng. Cách xác định output tối ưu trong ba trường hợp này là tìm điểm MR = MC, sau đó chiếu lên demand curve để đọc ra mức giá tương ứng.
Hình dạng demand curve và pricing power
Trong perfect competition, demand curve của doanh nghiệp nằm ngang, nghĩa là doanh nghiệp bán được mọi mức output tại đúng giá thị trường. Sản phẩm đồng nhất và có nhiều close substitute, do đó nếu doanh nghiệp nâng giá thì mất toàn bộ khách hàng. Vì giá không thay đổi theo output nên doanh thu tăng thêm của mỗi đơn vị bán ra bằng đúng giá bán, khi đó P = AR = MR và điều kiện tối đa hoá lợi nhuận trở thành P = MC.
Ba market structure còn lại có demand curve dốc xuống, doanh nghiệp phải hạ giá mới bán thêm được, và mức giá mới áp dụng cho toàn bộ output chứ không riêng đơn vị cuối cùng. Do đó MR luôn nằm dưới P. Điều kiện tối ưu vẫn là MR = MC, tuy nhiên vì P > MR nên kết quả là P > MC.
Phần chênh lệch giữa giá bán và chi phí biên là markup, đồng thời là thước đo pricing power:
→ Demand curve càng dốc, tức cầu càng inelastic, markup càng lớn.
Monopolistic competition và excess capacity
Thị trường monopolistic competition có số lượng người bán lớn và hoạt động độc lập với nhau, sản phẩm dễ bị thay thế nhưng vẫn có sự khác biệt, barrier to entry thấp. Cạnh tranh diễn ra trên cả giá, chất lượng và tiếp thị. Demand curve của từng doanh nghiệp dốc xuống, và không xác định được supply curve.
Trong short run, chiến lược giá là MR = MC, khi đó giá và output nằm ở mức P* và Q*. Doanh nghiệp có thể có lãi hoặc lỗ, tuy nhiên không duy trì được trong long run, do barrier to entry thấp cho phép doanh nghiệp mới gia nhập.
Trong long run, so với perfect competition, thị trường monopolistic competition có các đặc điểm sau:
- Doanh nghiệp tạo ra output thấp hơn và tính giá cao hơn.
- P > MC, phần chênh lệch (P − MC) là markup.
- Doanh nghiệp sản xuất tại mức output mà ATC chưa phải nhỏ nhất → excess capacity, hay quy mô sản xuất kém hiệu quả.
Nguyên nhân của excess capacity nằm ở hình dạng demand curve. Demand curve dốc xuống chỉ tiếp xúc được với ATC ở bên trái điểm đáy, trong khi demand curve nằm ngang của perfect competition tiếp xúc đúng tại đáy. Phần output chênh lệch giữa hai điểm tiếp xúc này là cái giá phải trả để có được sự đa dạng sản phẩm.
Bốn mô hình định giá trong oligopoly
Thị trường oligopoly có số lượng người bán nhỏ, sản phẩm thay thế gần giống nhau, barrier to entry cao. Quyết định của mỗi doanh nghiệp phụ thuộc lẫn nhau, do đó khi một doanh nghiệp thay đổi giá thì các đối thủ có thể thay đổi theo. Chương trình trình bày bốn mô hình xác định giá và output, mỗi mô hình dựa trên một giả định khác nhau về phản ứng của đối thủ.
1. Kinked demand curve model
Mô hình này giả định các đối thủ không thay đổi giá bán khi một doanh nghiệp tăng giá, tuy nhiên sẽ thay đổi giá bán khi doanh nghiệp đó giảm giá. Từ giả định này hình thành đường cầu gãy khúc tại mức giá hiện hành PK, trong đó:
- Với P > PK, demand curve trở nên co giãn hơn (elastic).
- Với P < PK, demand curve trở nên ít co giãn hơn (inelastic).
Điểm gãy trên demand curve tạo ra một khoảng đứt quãng trên đường MR. Khi MC dịch chuyển trong phạm vi khoảng đứt quãng đó, điểm MR = MC không đổi, do đó giá tối ưu giữ nguyên tại PK. → Đây là cách mô hình giải thích hiện tượng giá cứng nhắc trong các ngành có ít doanh nghiệp lớn.
2. Cournot duopoly model
Mô hình giả định thị trường chỉ có hai doanh nghiệp với cấu trúc chi phí giống nhau, sản phẩm giống nhau, và cạnh tranh về số lượng sản phẩm sản xuất một cách độc lập và đồng thời. Mỗi doanh nghiệp tối đa hoá lợi nhuận với giả định doanh nghiệp còn lại giữ nguyên output. → Trong long run, giá và output đạt cân bằng, hai doanh nghiệp chia đôi market share.
3. Nash equilibrium
Cân bằng Nash là trạng thái mà không doanh nghiệp nào tăng được lợi nhuận bằng cách đơn phương thay đổi chiến lược giá. Mô hình gắn với Game Theory và bài toán prisoner’s dilemma, áp dụng khi mỗi doanh nghiệp phải dự đoán quyết định của đối thủ trước khi hành động.
4. Stackelberg dominant firm model
Mô hình giả định có một dominant firm nắm ưu thế về market share và quy mô. Doanh nghiệp này quyết định giá bán trên thị trường, các competitive firm còn lại chấp nhận mức giá đã được định sẵn.
Monopoly và chiến lược giá
Thị trường monopoly có một người bán duy nhất, sản phẩm không có close substitute, barrier to entry rất cao. Nhà độc quyền có pricing power lớn, do khi nâng giá bán thì không phải lo đối thủ dùng mức giá thấp hơn để giành market share.
Hai chiến lược giá thường được sử dụng:
- Single price. Doanh nghiệp bán một mức giá duy nhất và giới hạn output tại điểm MR = MC.
- Price discrimination. Doanh nghiệp bán cùng một sản phẩm cho các nhóm khách hàng khác nhau với các mức giá khác nhau, nhờ đó thu được nhiều consumer surplus hơn so với chiến lược một giá. Ví dụ là giá vé xem phim tính theo độ tuổi.
Một trường hợp riêng là natural monopoly, khi doanh nghiệp có lợi thế về các yếu tố đầu vào cho phép giảm chi phí sản xuất liên tục lúc quy mô mở rộng. Khi đó cách tổ chức sản xuất hiệu quả nhất là chỉ có một nhà cung cấp, và chính phủ thường chỉ cấp phép một đơn vị kinh doanh điện hoặc nước.
Hai chỉ số đo mức tập trung ngành
| N-firm concentration ratio | Herfindahl-Hirschman Index (HHI) | |
|---|---|---|
| Cách tính | Tổng market share của N doanh nghiệp lớn nhất | Tổng bình phương market share của từng doanh nghiệp |
| Ưu điểm | Tính toán đơn giản, dễ hiểu | Đánh giá được tác động của merger |
| Hạn chế | Không đánh giá được tác động của merger; không xét barrier to entry; không đo trực tiếp market power hay elasticity of demand | Không xét barrier to entry |
trong đó là market share của doanh nghiệp thứ và là số doanh nghiệp trong ngành.
Khác biệt giữa hai chỉ số nằm ở phép bình phương. Xét một ngành có sáu doanh nghiệp với market share lần lượt 30, 25, 20, 15, 5 và 5 phần trăm, trong đó doanh nghiệp thứ hai và thứ ba merger với nhau thành một hãng 45 phần trăm:
| Trước merger | Sau merger | Thay đổi | |
|---|---|---|---|
| CR4 | 90 | 95 | +5 |
| HHI | 2.200 | 3.200 | +1.000 |
Với cùng một thương vụ, CR4 tăng 5.6 phần trăm còn HHI tăng 45.5 phần trăm. Phép bình phương làm doanh nghiệp lớn có trọng số cao hơn hẳn, trong khi phép cộng đơn thuần của concentration ratio phản ánh rất ít việc hai hãng trong nhóm N gộp lại. → Các cơ quan quản lý cạnh tranh sử dụng HHI khi thẩm định một thương vụ merger.
Cả hai chỉ số đều không xét tới barrier to entry. Một ngành có mức tập trung cao nhưng dễ gia nhập vẫn chịu sức ép cạnh tranh từ mối đe doạ của doanh nghiệp mới, trong khi ngành có mức tập trung thấp mà barrier to entry cao có thể ít cạnh tranh hơn con số thể hiện.
Lưu ý khi làm bài
Đọc kỹ dòng supply curve. Câu hỏi thường hỏi market structure nào không xác định được supply curve, và đáp án gồm cả ba market structure có demand curve dốc xuống.
Phân biệt economic profit bằng không với quy mô hiệu quả. Perfect competition và monopolistic competition đều có economic profit bằng không trong long run, tuy nhiên chỉ perfect competition sản xuất tại đáy ATC.
Xác định đúng chiều của kinked demand curve. Phía trên điểm gãy là vùng tăng giá, khi tăng giá thì doanh nghiệp mất khách nhanh, do đó đoạn này elastic.
Phân biệt markup với economic profit. Markup là chênh lệch P − MC trên một đơn vị sản phẩm. Monopolistic competition có markup dương trong khi economic profit bằng không ở long run.
Nhận diện câu hỏi về HHI. Khi đề cho tình huống merger, câu hỏi thường kiểm tra nhược điểm của concentration ratio.
Vị trí trong chương trình
Market structures thuộc Module 1 môn Economics và là phần microeconomics duy nhất của Level 1, tám module còn lại đều thuộc macroeconomics. Nội dung này cũng là nền tảng cho phần competitive analysis của môn Equity, cụ thể là Module 6 về Industry and Competitive Analysis.